Quy định mới năm 2026 về các nhóm lao động phải thực hiện thủ tục đăng ký lao động

Từ năm 2026, các quy định về quản lý lao động tiếp tục được hoàn thiện nhằm bảo đảm quyền lợi của người lao động cũng như tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, trong đó, thủ tục đăng ký lao động nhận được nhiều sự quan tâm. Nghị định số 318/2025/NĐ-CP về đăng ký lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 đã quy định áp dụng đối với các nhóm đối tượng nhất định. Hãy cùng Luật Hợp Nhất tìm hiểu quy định pháp luật hiện hành về các nhóm đối tượng phải thực hiện thủ tục đăng ký lao động thông qua bài viết dưới đây. 

1. Quy định pháp luật về các nhóm lao động bắt buộc thực hiện thủ tục đăng ký lao động

Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 318/2025/NĐ-CP quy định về đối tượng đăng ký lao động như sau:

“1. Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.

2. Người lao động đang có việc làm và không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

3. Người thất nghiệp là người đang không có việc làm, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc.

4. Cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nhân dân không thực hiện việc đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động theo quy định tại Nghị định này.

5. Người lao động tự kê khai hồ sơ đăng ký lao động và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, chính xác của các thông tin đã kê khai; người sử dụng lao động có trách nhiệm thu thập, kê khai và cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời thông tin về người lao động khi tuyển dụng, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ lao động theo quy định của Nghị định này; bảo đảm tính trung thực chính xác của thông tin cung cấp.”

Quy định nêu trên đã xác định cụ thể từng nhóm đối tượng phải thực hiện thủ tục đăng ký lao động. Cụ thể:

– Nhóm 1: Người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm 2024.

Theo đó, nhóm đối tượng này bao gồm người làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, người lao động đi làm ở nước ngoài theo hợp đồng, người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện vốn nhà nước…

Nhóm 2: Người lao động đang có việc làm và không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Nhóm này có thể bao gồm người làm việc không theo hợp đồng, lao động thời vụ, ngắn hạn chưa đủ điều kiện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc một số trường hợp tự tạo việc làm, làm việc linh hoạt nhưng vẫn có thu nhập từ lao động.

– Nhóm 3: Người thất nghiệp đang không có việc làm, đang tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc.

Có thể hiểu nhóm đối tượng này là những người trong độ tuổi lao động nhưng hiện tại đang chưa có việc làm, chưa ký kết hợp đồng lao động với bất kỳ người sử dụng lao động nào nhưng họ sẵn sàng làm việc khi có cơ hội.

Mặt khác, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang nhân dân không thực hiện việc đăng ký lao động, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động theo các quy định của Nghị định số 318/2025/NĐ-CP này.

Ngoài ra, tại khoản 5 Điều 3 có quy định về việc người lao động tự mình thực hiện kê khai hồ sơ đăng ký lao động của mình và chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của hồ sơ đã kê khai. Đây là một diểm đáng lưu ý về trách nhiệm kê khai của mỗi cá nhân được pháp luật phân định rõ ràng.

2. Quy định về các thông tin đăng ký lao động

Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 318/2025/NĐ-CP, các thông tin cần kê khai khi đăng ký lao động đã được quy định cụ thể gồm 5 nhóm thông tin:

– Thông tin cơ bản của người lao động, bao gồm: họ, chữ đệm và tên khai sinh; số định danh cá nhân, ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; nơi ở hiện tại (nơi thường trú hoặc tạm trú).

– Nhóm thông tin về giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, chứng chỉ kỹ năng nghề và các chứng chỉ khác, bao gồm: Thông tin về trình độ giáo dục phổ thông cao nhất đạt được; thông tin về cấp trình độ, lĩnh vực đào tạo đạt được của giáo dục nghề nghiệp; giáo dục đại học; thông tin về chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia đã đạt được; các chứng chỉ khác.

– Nhóm thông tin về tình trạng việc làm và nhu cầu về việc làm: Thông tin về việc làm đang làm; thông tin về người sử dụng lao động; thông tin về tình trạng thất nghiệp; thông tin về nhu cầu việc làm.

– Nhóm thông tin về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bao gồm: Thông tin về tình trạng tham gia các loại bảo hiểm nêu trên; thông tin về tình trạng hưởng chế độ của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.

– Nhóm thông tin về đặc điểm, đặc thù như việc người lao động có là người khuyết tật không; thông tin về người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có đất bị thu hồi; thân nhân của người có công với cách mạng; thông tin về người hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ tham gia công an nhân dân.

Qua đó thấy rằng, việc xác định đúng những nhóm lao động thực hiện thủ tục đăng ký lao động có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho cả người lao động và người sử dụng lao động. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đăng ký không chỉ giúp cơ quan quản lý nắm bắt được chính xác tình hình lao động mà còn góp phần hạn chế rủi ro pháp lý phát sinh trong quá trình làm việc.

Quý bạn đọc thắc mắc hoặc có nhu cầu cần được tư vấn về vấn đề nêu trên vui lòng liên hệ địa chỉ email: info@hnlaw.com.vn, SĐT: 0972362884 của Công ty Luật TNHH Hợp Nhất để được hướng dẫn thêm!

————————-  

Người thực hiện: Hiểu Khánh

Tham vấn bởi: NVPL. Nguyễn Việt Hà

(Bản quyền tác giả và sở hữu chuyên đề thuộc về Công ty Luật TNHH Hợp Nhất)

Bài viết liên quan

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *